Vấn đề mô hình của các đại học quốc gia và đại học vùng ở nước ta

LÂM QUANG THIỆP

             Việc xây dựng Luật Giáo dục Đại học (GDĐH) sửa đổi của nước ta thu hút sự chú ý chẳng những của cộng đồng GDĐH trong nước, mà còn của các chuyên gia GDĐH nước ngoài. Vừa qua Ngân hàng Thế giới (WB) đã có một văn bản góp ý chính thức cho dự thảo Luật GDĐH sửa đổi [The World Bank team…, 2018]. Trong văn bản góp ý, vấn đề cụ thể được lưu ý đầu tiên và nhiều nhất là các nhược điểm của mô hình hai đại học quốc gia của nước ta. Tuy không nói đến các đại học vùng, nhưng hai loại hình đại học quốc gia và đại học vùng ở nước ta đều liên quan đến cùng một kiểu mô hình cơ sở GDĐH được xây dựng trong thập niên đầu đổi mới GDĐH (1987-1997).

            Bài viết này sẽ điểm lại việc xây dựng hai loại cơ sở GDĐH nói trên và phân tích các góp ý của các chuyên gia WB.

2. Hệ thống GDĐH nước ta trước thời kỳ đổi mới

            Sau năm 1975 hệ thống GDĐH của cả nước ta được xây dựng theo mô hình Liên Xô. Vậy mô hình GDĐH của Liên Xô có những đặc điểm gì?

            Hệ thống GDĐH Liên Xô chịu ảnh hưởng của GDĐH Pháp và Đức, đồng thời được định định hình theo kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Có thể nói hệ thống đó có các đặc điểm chính như sau. 1) Hệ thống trường đại học tách biệt với hệ thống các viện nghiên cứu khoa học mạnh, mà trên cùng của hệ thống nghiên cứu là Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô; 2) Phần lớn các trường đại học là các trường đơn ngành hoặc đơn lĩnh vực. 3) Quy trình đào tạo đại học trước tiến sĩ thường thiết kế liền một mạch, 4 đến 6 năm, theo hướng chuyên ngành rất hẹp. 4) Điều hành hệ thống theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung: chỉ tiêu tuyển sinh, kinh phí đào rạo, chương trình học đều được quyết định từ Nhà nước, sinh viên tốt nghiệp cũng được Nhà nước phân công vào các cơ sở kinh tế quốc doanh, tập thể hoặc biên chế nhà nước [Lâm Quang Thiệp, 2018].

            Hệ thống GDĐH nói trên của Liên Xô đã có lúc phát triển tốt, có đóng góp quan trọng để nâng cao kỹ thuật quân sự phục vụ cuộc kháng chiến chống phát xít, và đặc biệt trong việc phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên của thế giới năm 1957 và công cuộc nghiên cứu vũ trụ. Tuy nhiên vào thời gian cuối của Liên Xô, hệ thống đó có nhiều biểu hiện tiêu cực.

            Sau khi Liên Xô tan rã, Liên bang Nga chuyển đổi sang kinh tế thị trường, GDĐH cũng đổi mới: phần lớn các trường đại học chuyển sang mô hình đa lĩnh vực, quy trình đào tạo liền một mạch và chuyên môn hẹp chuyển thành quy trình đa giai đoạn, theo diện rộng. Chính vì chuyển hướng như vậy nên Liên bang Nga đã gia nhập quá trình Bologna đổi mới GDĐH của EU, nhằm xây dựng một hệ thống GDĐH tương đồng với Hoa Kỳ.

            Hệ thống GDĐH Việt Nam trước thời đổi mới hoàn toàn giống như mô hình Liên Xô đã mô tả trên đây. Từ khi đổi mới GDĐH nước ta đã dần dần chuyển đổi sang mô hình phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường và hội nhập với thế giới. Dưới đây là một số chủ trương đổi mới quan trọng đối với hệ thống GDĐH nước ta vào thập niên 1990.

 

  1. Vài chủ trương quan trọng trong thời kỳ đầu đổi mới GDĐH

 

  • Đổi mới chương trình đào tạo đại học

            Như đã nói trên đây, chương trình đào tạo bậc ĐH trước tiến sĩ của Liên Xô mà nước ta áp dụng được thiết kế liền một mạch, theo ngành hẹp, để chuẩn bị nhân lực cho nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung: sinh viên tốt nghiệp được phân công làm việc theo các ngành nghề xác định trong các cơ sở kinh tế quốc doanh và biên chế nhà nước. Cơ cấu chương trình đào tạo thường thu hẹp dần theo các năm học, ví dụ chương trình đào tạo ngành “điện dân dụng”, từ các môn cơ bản (như: vật lý), tiếp theo là các môn cơ sở (như: kỹ thuật điện) cho đến các môn chuyên ngành về điện dân dụng. Các môn cơ bản và cơ sở đều nhằm phục vụ cho việc đào tạo các môn chuyên ngành.

            Từ khi đổi mới, chương trình đào tạo bậc cử nhân của ta được thiết kế theo ngành rộng (để sinh viên tốt nghiệp dễ tìm việc làm trong thị trường lao động). Mặt khác, có thể nói chương trình bậc cử nhân không chỉ nhằm đào tạo cho sinh viên một nghề, tức trở thành một con người-công cụ phục vụ phát triển kinh tế xã hội, mà còn giáo dục cho sinh viên thành một con người-mục đích, con người có tầm nhìn, có phương pháp tư duy và tình cảm nhân văn. Do đó cơ cấu chương trình cử nhân có hai phần: phần giáo dục đại cương (general education) và phần giáo dục chuyên nghiệp (professional education). Phần giáo dục đại cương (GDĐC) chính là nhằm giáo dục con người-mục đích nói trên.

            Có nhiều định nghĩa khác nhau đối với GDĐC, nhưng có thể tóm tắt như sau: “GDĐC là một cách tiếp cận học tập tăng cường năng lực và chuẩn bị cho từng cá thể ứng đáp với sự phức tạp, đa dạng và thay đổi.  Nó cung cấp cho sinh viên một nền kiến thức rộng về thế giới (khoa học, văn hóa và xã hội), giúp sinh viên phát triển ý thức về trách nhiệm xã hội cũng như các kỹ năng thực tiễn và tri thức mạnh mẽ như giao tiếp, phân tích và giải quyết vấn đề, cũng như thể hiện một năng lực áp dụng kiến thức và kỹ năng vào đời sống thực tế”. [Association of American Colleges & Universities, 2017]. Ví dụ sau đây cho thấy các trường đại học Hoa Kỳ rất coi trọng phần GDĐC. Hiệp hội Các trường Đại học Miền Nam Hoa Kỳ về kiểm định chất lượng đã đưa ra một trong những điều kiện để một cơ sở giáo dục được gia nhập hiệp hội như sau: “Tất cả các chương trình đào tạo đại học của nhà trường phải có một phần đủ lớn các môn học GDĐC ở trình độ đại học: chương trình hai năm (dẫn đến bằng phó cử nhân – associate degree) có ít nhất 15 tín chỉ, chương trình cử nhân có ít nhất 30 tín chỉ. Các giáo trình không được tập trung hẹp vào các kỹ năng, kỹ thuật và quy trình riêng biệt đối với một nghề xác định.” [Handbook of Accreditation, 1988].

            Các chuyên gia GDĐH phương Tây cho rằng trong chương trình đào tạo cấp đại học của Liên Xô trước đây không có phần GDĐC, chỉ có phần giáo dục ý thức hệ, vì chỉ chú ý đào tạo những con người – công cụ hơn là con người phát triển toàn diện. [Levin A., 1985].

  • Về mô hình trường đại học đa lĩnh vực được mong muốn xây dựng 

            Ở Hoa Kỳ có khoảng 4500 trường đại học và cao đẳng, chia làm 2 nhóm lớn, khoảng  2800 trường đại học bốn năm (four-year colleges) và khoảng 1700 trường đại học hai năm (two-year colleges).  ”Đại học 4 năm” là thuật ngữ để gọi chung các trường có đào tạo bằng cử nhân (bachelor) trở lên. ”Đại học 2 năm” là thuật ngữ để gọi chung các trường cao đẳng (junior college) hoặc cao đẳng cộng đồng (community college), đó là các trường cung cấp các chương trình học nghề sau trung học hoặc các chương trình chuyển tiếp (transfer) cấp các loại associate degree để có thể học tiếp ở các trường đại học bốn năm.

            Phần lớn các trường đại học 4 năm ở Hoa Kỳ được tổ chức theo mô hình university, tức là trường đại học đa lĩnh vực, một mô hình trường đại học có hiệu quả cao nhất. Sở dĩ mô hình đại học đa lĩnh vực có hiệu quả cao nhất vì các lý do sau đây: Một là, các đại học đa lĩnh vực sẽ đào tạo tốt phần GDĐC và các môn khoa học cơ bản, phần rất quan trọng của chương trình bậc cử nhân, vì chỉ trong các university mới có đủ đội ngũ giáo sư, giảng viên có trình độ cao để giảng dạy tốt mảng kiến thức này. Hai là đại học đa lĩnh vực có ưu thế về nghiên cứu và phục vụ xã hội, vì ngày nay các đề tài nghiên cứu lớn đều là các đề tài có tính liên ngành, các hoạt động phục vụ xã hội cũng vậy. Ba là, đại học đa lĩnh vực bao gồm nhiều ngành đào tạo khác nhau dễ đối phó với sự biến động về nhu cầu nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

            Chính vì ưu thế của mô hình đại học đa lĩnh vực nên khi chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, nhiều nước đã chuyển từ trường đại học đơn ngành hoặc đơn lĩnh vực sang đại học đa lĩnh vực. Ở Liên bang Nga, phần lớn các đại học đơn ngành đơn lĩnh vực thời Liên Xô cũ với tên gọi “inxtitut” chuyển sang mô hình đa lĩnh vực và đặt lại tên là “universitet” hoặc “academia”. Ở Trung Quốc Đại học Bắc Kinh vốn bao gồm các lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội kiểu “universitet” của Liên Xô cũ, cũng như Đại học Thanh Hoa vốn là một đại học bách khoa với lĩnh vực kỹ thuật công nghiệp, đều đã mở bổ sung thêm nhiều lĩnh vực khác để trở thành các “university” đa lĩnh vực theo kiểu phương Tây.

            Vào đầu thập niên 1990, khi Chính phủ chủ trương xây dựng một số trường đại học mạnh cho nước ta, Thủ tướng Võ Văn Kiệt yêu cầu Bộ GD&ĐT thiết kế các đại học này và Bộ đã đề nghị xây dựng hai đại học quốc gia Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, ba đại học vùng Thái Nguyên, Huế, Đà Nẵng theo mô hình đại học đa lĩnh vực [Hiệp hội.., 2017]. Tuy nhiên việc thực hiện đã diễn ra không đúng như thiết kế, tình trạng đó sẽ được bàn dưới đây.

 

3. Về việc xây dựng các đại học quốc gia, đại học vùng và những vấn đề nảy sinh

  • Quá trình thành lập và hoạt động của các “đại học” quốc gia và “đại học” vùng

            Thay đổi mô hình các cơ sở GDĐH là một trong những chủ trương quan trọng của đổi mới GDĐH. Tuy nhiên, việc triển khai xây dựng các đại học quốc gia và đại học vùng theo mô hình đại học đa lĩnh vực diễn ra không được suôn sẻ, theo nhiều tình huống khác nhau.

            Đối với ĐHQG Hà Nội, Nghị định 97/CP ngày 10/12/1993 đã quyết định sáp nhập Đại học Tổng hợp Hà Nội với Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Ngoại ngữ Hà Nội. Nghị định này được thực hiện rất khó khăn vì có nhiều ý kiến khác nhau. Đại học Tổng hợp và Đại học Sư phạm được nhập một cách máy móc nhưng không “hòa hợp” được. Một trong các phản ứng gay gắt là ý kiến bảo vệ kiểu trường Đại học Sư phạm chỉ đào tạo giáo viên theo mô hình đơn lĩnh vực của Liên Xô. Sau một thời gian nhập mà không hòa, năm 2000 trường Đại học Sư phạm lại được quyết định tách ra khỏi ĐHQG Hà Nội.

            Đối với ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh một tình huống khác đã diễn ra. Vào đầu thời kỳ đổi mới, khoảng năm 1988, quy mô các trường đại học nước ta đều rất nhỏ bé, thường dưới một nghìn sinh viên, nên phương án sáp nhập 9 trường đại học trên địa bàn thành phố HCM để thành lập ĐHQG thành phố HCM đã được đề xuất, và Nghị định 16/CP của Chính phủ ngày 27/1 /1995 đã quyết định trên tinh thần đó. Tuy nhiên, đến khi thực hiện các phương án này vào năm 1995 thì quy mô các trường đại học đơn ngành đã tăng lên rất nhiều, do đó việc nhập quá nhiều trường đại học đơn ngành sẽ tạo nên một đại học đa lĩnh vực quá lớn. Đó là lý do mà vào năm 2001 Chính phủ quyết định tổ chức lại và giảm bớt quy mô của ĐHQG thành phố HCM bằng cách đưa ra ngoài bớt một số trường thành viên.

            Những khó khăn về tổ chức trong quá trình thành lập các đại học quốc gia và đại học vùng cũng đã dẫn đến một hệ quả đáng tiếc, đó là: các đại học đa lĩnh vực không giữ được mô hình university như đã thiết kế. Một trong các lý do thực chất làm cho các trường thành viên phản đối khi được sáp nhập, đó là khả năng mất nhiều “ghế” quản lý, và quan niệm “trường” bị hạ cấp thành “khoa”. Các nhà tổ chức phải thỏa hiệp bằng cách hứa hẹn giữ nguyên vị trí các trường thành viên, không thay đổi các chức vụ quản lý trước đây, do đó các quy chế được xây dựng theo mô hình các đại học hai cấp. Theo mô hình này, hoạt động trong các trường thành viên hầu như vẫn giữ như cũ, kết nối giữa các trường thành viên với nhau rất lỏng lẻo, và cấp quản lý trên cùng của “đại học” thực hiện một cơ chế quản lý trung gian gián tiếp, giống như các “bộ ĐH” nhỏ.

            Về tên của các đại học quốc gia và đại học vùng cũng có vấn đề. Để chỉ loại hình trường đó, các văn bản luật pháp gọi là “đại học”, khác với đề nghị của Bộ GD&ĐT gọi là “viện đại học”, giống như “Viện đại học Đông Dương” từ năm 1906 [Hòa Giang Đỗ Hữu Nghiêm,2017] và các đại học đa lĩnh vực ở Miền Nam trước năm 1975 [Lê Văn Giạng, 2003]. Tuy nhiên trong thực tế, xã hội đã không “dành riêng” thuật ngữ “đại học” để gọi các đại học đa lĩnh vực, mà đa số trường hợp vẫn lược bỏ chữ “trường” để gọi các đại học đơn lĩnh vực khác là “đại học” (ví dụ “Đại học” Bách khoa Hà Nội). Cũng cần nói thêm về tên tiếng Anh của hai đại học quốc gia. Ở Đại học quốc gia Hà Nội có người cho rằng mô hình đại học quốc gia của ta giống mô hình UC (University of California) và CSU (California State University) của bang Californi, Hoa Kỳ, nên đặt tên cho Đại học quốc gia Hà Nội theo kiểu UC, CSU, tức “Đại học quốc gia Việt Nam, Hà Nội”. Sau đó Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh cũng buộc phải đặt tên tương tự, là “Đại học quốc gia Việt Nam, tp. Hồ Chí Minh”. Kiểu đặt tên này hoàn toàn không hợp lý, vì rằng hai đại học quốc gia tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh chẳng có mối liên hệ nào về mặt tổ chức như các hệ thống UC và CSU. Thực ra UC và CSU là các hệ thống university, mỗi một university trong hệ thống mang đủ tính ưu việt của loại hình university, còn các đại học quốc gia và đại học khu vực của ta là tập hợp các đại học đơn ngành hoặc đơn lĩnh vực, mỗi đại học thành viên tách biệt sẽ không còn tính ưu việt như đã nói trên đây. Một chi tiết khác về tên gọi bằng tiếng Anh của các đại học đa lĩnh vực nước ta: vì để giữ “tư thế” của mình, các trường đại học thành viên của các đại học hai cấp đều tự gọi mình là university (lẽ ra nên gọi là college hoặc faculty, vì đó là các trường đơn ngành hoặc đơn lĩnh vực), cho nên nhiều chuyên gia quốc tế không hiểu tại sao trong university lại có university!

            Tóm lại, “mô hình đại học hai cấp” chỉ là một giải pháp tình thế trong quá trình xây dựng các đại học đa lĩnh vực chứ không phải mô hình của những người thiết kế mong muốn, mô hình này không giữ được thế mạnh của mô hình đại học đa lĩnh vực và làm nảy sinh một số vấn đề về tổ chức.

            Liên quan với việc đổi mới hệ thống nhà trường đại học, Bộ GD&ĐT cũng đặt vấn đề đổi mới hệ thống đào tạo giáo viên, khắc phục xu hướng đào tạo giáo viên bằng một hệ thống sư phạm khép kín. Ý tưởng đào tạo giáo viên theo mô hình nối tiếp trong các đại học đa lĩnh vực như sau: hai năm đầu sinh viên sư phạm được học chương trình khoa học cơ bản chuyên sâu chung với sinh viên khoa học, hai năm sau mới được đào tạo về sư phạm.  Giáo viên đào tạo theo mô hình này sẽ vững về chuyên môn hơn nên sẽ phát triển tốt hơn trong quá trình giảng dạy về sau. Mô hình này cũng giúp nhà trường dễ thích nghi hơn khi nhu cầu về giáo viên thay đổi. Đề nghị thay đổi hệ thống đào tạo giáo viên lúc đó được tóm tắt trong phương châm: “các trường sư phạm không chỉ đào tạo giáo viên, và giáo viên không chỉ được đào tạo ở các trường sư phạm”. Tuy nhiên ý tưởng về đào tạo giáo viên trong các đại học đa lĩnh vực bị phản đối rất nhiều bởi những người đã quen với mô hình đại học chuyên ngành theo kiểu Liên Xô. Vào những năm sau đó chỉ một số trường đại học sư phạm chuyển thành đại học đa lĩnh vực (Đại học Vinh, Đại học Quy nhơn, Đại học Hải phòng), còn các trường sư phạm lớn khác vẫn giữ mô hình đại học sư phạm đơn lĩnh vực khép kín. Việc không tuyển sinh được vào hệ thống các trường sư phạm trong kỳ tuyển sinh năm 2017 do nguồn cung giáo viên vượt quá nhu cầu đã làm bộc lộ rõ nhược điểm của mô hình đại học sư phạm đơn lĩnh vực khép kín.

            Hai đại học quốc gia được nâng cấp quản lý trở thành trực thuộc Chính phủ nên các trường thành viên xem như trực thuộc ĐHQG, ngang với cấp bộ, do đó không tạo nên gay cấn lớn về quản lý. Còn các đại học vùng thì vẫn trực thuộc Bộ GD&ĐT, và các trường thành viên trực thuộc đại học vùng, giảm một cấp so với trước khi sáp nhập. Vì cấp đại học vùng được tổ chức như một cấp quản lý trung gian đối với các trường thành viên, không quản lý trực tiếp, nên nảy sinh vấn đề hạ cấp các trường thành viên. Từ khi thành lập đến nay gay cấn về quản lý đại học vùng luôn tồn tại, phần lớn các trường thành viên đều muốn thoát khỏi đại học vùng để trở thành một trường độc lập. Mặt khác, cơ chế gắn kết lỏng lẻo theo hai cấp làm cho các trường thành viên đơn lĩnh vực của đại học vùng không phát huy được ưu thế của mô hình đại học đa lĩnh vực như đã nói trên đây.

            Có thể thấy các vấn đề lớn về quản lý trong các đại học đa lĩnh vực ở nước ta nảy sinh chủ yếu là do sự sáp nhập. Ở các trường đại học đa lĩnh vực khác, hoặc là được thành lập theo mô hình đa lĩnh vực ngay từ đầu, hoặc do các trường đơn lĩnh vực phát triển lên mà thành, không có các vấn đề tương tự. Đại học Cần Thơ chính là một minh chứng: đó là trường đại học đa lĩnh vực duy nhất ở miền Nam không bị tách nhỏ thành các trường đơn ngành đơn lĩnh vực sau năm 1975, đã phát triển rất tốt.  Còn Đại học Huế, vốn dĩ được thành lập bắt nguồn từ các trường của Viện Đại học Huế đa lĩnh vực trước năm 1975, nhưng đã được chia nhỏ sau 1975 thành các trường đơn lĩnh vực theo mô hình Liên Xô, thì khi sáp nhập lại nảy sinh vấn đề.

  • Nhược điểm của mô hình “đại học” quốc gia và “đại học” vùng hai cấp

            Như chúng tôi đã phân tích trong một số bài viết [Lâm Quang Thiệp, 2017; Lâm Quang Thiệp, 2018], các đại học hai cấp ở nước ta không phát huy được các thế mạnh của mô hình “university” như đã nêu ở phần 2. Trước hết, các trường thành viên quan hệ lỏng lẻo và hầu như hoàn toàn độc lập với nhau về đào tạo nên ưu thế về nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt đối với mảng GDĐC và các môn khoa học cơ bản, đã không thể hiện được. Cũng vậy, trong lĩnh vực nghiên cứu, phục vụ xã hội, quan hệ lỏng lẻo giữa các trường thành viên rất khó tạo nên sự phối hợp để nâng cao hiệu quả. Sự thiếu gắn kết giữa các trường thành viên cũng không tạo thuận lợi trong việc đáp ứng thị trường lao động.

            Như đã nêu ở đầu bài viết, văn bản của WB nhận xét về dự thảo Luật GDĐH nước ta [The World Bank, 2018] đặc biệt lưu ý đến mô hình các đại học quốc gia. Trước hết họ nói đó là mô hình duy nhất độc đáo tại Việt Nam (“is unique to Vietnam”) và không thấy ở bất kỳ nước nào trên thế giới (“We have not come across this set up in any country in the world”). Nói theo ngôn ngữ thông thường, đó là một mô hình “không giống ai” trên thế giới. Họ có nêu 3 mô hình gần tương tự tại Cộng hòa Nam Tư cũ, tại Côte d’Ivoire và tại Pháp, nhưng đều nhận xét là tất cả 3  trường hợp ấy đều thua kém các cơ sở khác trong hoạt động lâu dài.

            Về nhược điểm của các  đại học quốc gia Hà Nội và tp. Hồ Chí Minh, chúng tôi xin trích đầy đủ ý kiến của các  chuyên gia WB. Theo họ, các nhược điểm đó là: “không tận dụng được hết ưu thế về tài năng, kiến thức và tiềm lực hiện có bị phân tán trong một số lớn các cơ sở tách biệt. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy rằng các cơ sở đại học phi tập trung hoạt động kiểu như các trường thành viên độc lập gắn kết yếu gặp thách thức lớn nhằm chuyển đổi và tăng cường hoạt động bởi vì mỗi trường thành viên đều có kế hoạch và ưu tiên của riêng mình, không nhất thiết gắn chặt với mục tiêu chung của đại học lớn. Sự thiếu tích hợp làm cho chúng không thể tạo nên một sự đồng nhất cốt lõi và một tình cảm chung về mục đích.  Khi không có một tầm nhìn chung, nhiệm vụ thiết kế và thực hiện một dự án phát triển đổi mới cho toàn bộ trường đại học trở thành bất lực. Các cơ sở đại học phi tập trung có xu hướng trở thành không hiệu quả vì sự trùng lặp của việc cung cấp các khóa học và các cấu trúc hành chính. Các hoạt động trong giảng dạy và nghiên cứu vẫn được giữ trong nội bộ các trường và khoa riêng biệt. Những nỗ lực đa ngành bị cản trở.  Các nguồn lực tài chính và khoa học không được chia sẻ rộng rải.”

4. Nên chăng thay đổi mô hình đại học quốc gia và đại học vùng?

            Các đại học quốc gia và đại học vùng là các cơ sở GDĐH quan trọng của hệ thống GDĐH nước ta.  Tuy nhiên, như đã thấy, mô hình hiện tại của các đại học quốc gia và đại học vùng, một sản phẩm có tính “biện pháp tình thế” trong quá trình đổi mới GDĐH, gặp nhiều vấn đề gay cấn, làm cho các cơ sở đó không phát triển mạnh mẽ như mong muốn. Nhược điểm của mô hình hiện tại của đại học quốc gia và đại học vùng chẳng những được cảm nhận bởi các chuyên gia và các nhà quản lý GDĐH trong nước, mà còn được vạch rõ bởi các chuyên gia GDĐH quốc tế dựa trên kinh nghiệm phát triển GDĐH thế giới.

            Trong tình hình nói trên, có nên đặt vấn đề thay đổi mô hình của các đại học quốc gia và đại học vùng hay không?

            Đây là vấn đề rất lớn của Nhà nước, không hoàn toàn nằm trong tầm của bài viết này.  Tuy nhiên, dưới đây cũng xin nêu một số đề xuất của chúng tôi, những người trong cuộc có theo dõi diễn biến của việc xây dựng các đại học quốc gia và đại học vùng trong quá trình đổi mới GDĐH, và  của các chuyên gia GDĐH của WB, để những người có trách nhiệm của Nhà nước lựa chọn.

            Theo ý kiến chúng tôi, khi nói đến mô hình nên chọn, thì tốt hơn hết các cơ sở GDĐH quan trọng của hệ thống GDĐH nước ta nên xây dựng theo mô hình university (đại học đa lĩnh vực) thực sự, không nên sử dụng mô hình đại học hai cấp [Lâm Quang Thiệp, 2018]. Muốn vậy, tùy theo điều kiện cụ thể nên xử lý một đại học hai cấp nào đó ở nước ta theo một trong hai giải pháp: 1) Cho phép các trường thành viên đơn ngành đơn lĩnh vực phát triển thành các university, và đại học hai cấp biến thành một tập đoàn các university với sự  liên kết rất lỏng lẻo theo kiểu UC hoặc CSU của bang California, Hoa Kỳ; 2) Đại học hai cấp chuyển thành một university đơn nhất thực sự, thay đổi bộ phận điều phối trung gian thành cấp điều hành trực tiếp, toàn bộ university có một chương trình đào tạo chung, như kiểu Trường Đại học Cần Thơ và một số đại học đa lĩnh vực khác ở nước ta.

            Trong văn bản [The World Bank, 2018] các chuyên gia GDĐH của WB cũng đề xuất các giải pháp thay đổi mô hình của các đại học quốc gia và đại học vùng như sau. Như một giải pháp ưu tiên, họ cho rằng: “trong “university” nên có các trường (schools, institutes, faculties) chứ không phải các “university”.  Luật GDĐH sửa đổi nên tạo một điểm gặp để tích hợp các đại học thành viên vào một “university” mạnh mẽ và thống nhất nhằm dẫn đến sự xuất sắc về học thuật và công nhận quốc tế.  Việc tái cấu trúc dần dần sẽ làm hài hòa các thiết chế quản trị, và nếu quản lý tốt, nó có thể mang lại các lợi ích quan trọng, như các phương tiện và nguồn lực được chia sẻ chung, và các nỗ lực được hợp tác cho phép university thống nhất phát huy ưu thế so sánh của nó và tạo nên nền học vấn theo các cách chưa từng có”.  Họ còn nêu một cách tiếp cận khác, ưu tiên thấp hơn, nhưng vẫn tốt hơn hiện trạng, là: “ cho phép giám đốc đại học lớn được lựa chọn và bổ nhiệm hiệu trưởng các trường thành viên và có toàn quyền phân phối ngân sách cho các trường thành viên, cũng như có quyền lực trong việc bổ nhiệm các chức vụ học thuật và quản lý cao cấp trong các trường thành viên”. Mặc dù diễn đạt theo cách khác, nhưng đề xuất của các chuyên gia GDĐH của WB vẫn thể hiện mong muốn các đại học quốc gia của chúng ta được thay đổi theo  mô hình các university thống nhất, gắn kết chặt chẽ để có cơ hội phát triển mạnh mẽ.

            Cùng với việc sửa đổi Luật GDĐH và ban hành các chủ trương tăng cường quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của các cơ sở GDĐH, hy vọng Nhà nước sẽ có chủ trương điều chỉnh mô hình các đại học quốc gia và đại học vùng nhằm tăng cường chất lượng và hiệu quả của chúng, vì các cơ sở GDĐH đó có tác động quan trọng và lâu dài đến sự phát triển của hệ thống GDĐH nước ta.

Hà Nội, tháng 7 năm 2018

__________________________

 

TÀI LIỆU DẪN

  1. The World Bank team comments on Vietnam HE Law amendment draft, 29/4/2018.
  2. Association of American Colleges & Universities, What Is a 21st Century Liberal Education? https://www.aacu.org/leap/what-is-a-liberal-education
  1. Handbook of Accreditation,1988. Accrediting Commission for Senior Colleges and Universities- Western Assosiation of Schools and Colleges, January 1988.
  1. Arthur Levine, 1985. Handbook on Undergraduate Curriculum. San Francissco: Jossey Bass.
  1. Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, 2017. Một số tư liệu đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 1987-1997. NXB Giáo dục.
  2. Hòa Giang Đỗ Hữu Nghiêm , 2017. Đại học Việt Nam – thời khai sinh. http://ttntt.free.fr/archive/huunghiemDo.html; 2017.
  1. Lê Văn Giạng, 2003. Lịch sử giản lược hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam – NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  2. Lâm Quang Thiệp, 2017. Đại học đa lĩnh vực thành công trên thế giới, nhưng sao gặp “sự cố” ở ta? net, 15/09/17.
    http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Dai-hoc-da-linh-vuc-thanh-cong-tren-the-gioi-nhung-sao-gap-su-co-o-ta-post179666.gd
  3. Lâm Quang Thiệp, 2018. Mô hình đại học đa lĩnh vực và việc triển khai xây dựng ở nước ta. Tap chí Khoa học và Công nghệ – Tháng 2 năm 2018.
    http://khoahocvacongnghevietnam.com.vn/epaper/view-pdf.php?year=2018&no=3

___________________________________

Bài viết liên quan