TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ

Những điều cơ bản về nguồn mở (Phần 1)

Lê Trung Nghĩa

Thứ tư – 30/06/2021 08:47

(Bài đăng trên tạp chí Tia Sáng, xuất bản tháng 6/2021. Phiên bản điện tử có tại địa chỉ: https://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Nhung-dieu-co-ban-ve-nguon-mo-Phan-1-28248)

Nguồn mở bắt đầu vào Việt Nam những năm cuối thập niên 1990, có lẽ vào khoảng thời gian ra đời của tổ chức Sáng kiến Nguồn Mở – OSI (Open Source Initiative) vào năm 1998 ở nước Mỹ, tổ chức bảo vệ cho phong trào phần mềm nguồn mở toàn thế giới. Tới lượt mình, OSI được thành lập từ một nhóm người tách ra từ phong trào phần mềm tự do được một tổ chức khác là Quỹ Phần mềm Tự do – FSF (Free Software Foundation), tổ chức bảo vệ cho phong trào phần mềm tự do toàn thế giới, được thành lập vào năm 1984 cũng ở nước Mỹ.
Nguồn mở dù bắt đầu bằng phần mềm, nhưng sau đó lan nhanh sang các lĩnh vực khác. Chính triết lý và thực hành của phần mềm tự do nguồn mở trong thế kỷ 20 đã truyền cảm hứng để đầu thế kỷ 21 hàng loạt các khái niệm mở liên quan tới các dạng nội dung khác nhau ra đời, như truy cập mở, tài nguyên giáo dục mở, hay dữ liệu mở.
Ngoài ra, còn có những khái niệm mở khác có liên quan chặt chẽ tới phần mềm và nội dung như cấp phép mở, tiêu chuẩn mở, định dạng mở, phần cứng mở, kiến trúc mở, .v.v. Gần đây hơn, một khái niệm bao trùm đã xuất hiện và trở thành xu thế mới của thế giới, đó là Khoa học Mở. Ngay cả trong đại dịch COVID-19, các sáng kiến như Cam kết COVID Mở (Open COVID Pledge) hay OpenCovid19 (Covid-19 Mở) cũng đều được truyền cảm hứng từ triết lý và các thực hành của nguồn mở.

A. Định nghĩa
Phần mềm nguồn mở (PMNM) và mã nguồn mở là gì?
Bản thảo Khuyến cáo Khoa học Mở mới nhất của UNESCO, xuất bản ngày 12/05/2021 định nghĩa phần mềm nguồn mở và mã nguồn mở như sau:
Phần mềm nguồn mở và mã nguồn mở thường gồm các phần mềm mà mã nguồn của chúng được làm cho sẵn sàng công khai, kịp thời và thân thiện với người sử dụng, ở định dạng cả con người và máy móc đều đọc được và sửa đổi được, theo một giấy phép mở trao cho những người khác quyền để sử dụng, sử dụng lại, sửa đổi, mở rộng, nghiên cứu, tạo ra các tác phẩm phái sinh, và chia sẻ phần mềm và mã nguồn đó, thiết kế hoặc kế hoạch chi tiết của nó. Mã nguồn đó phải được đưa vào trong phát hành phần mềm và làm cho sẵn sàng trong các kho truy cập mở và giấy phép được chọn phải cho phép các sửa đổi, có các tác phẩm phái sinh, và chia sẻ theo các điều khoản và điều kiện mở tương đương hoặc tương thích.

Phần mềm tự do (PMTD) là gì?
Trước khi xuất hiện khái niệm ‘phần mềm nguồn mở’ thì đã có khái niệm ‘phần mềm tự do’. Một chương trình phần mềm được gọi là phần mềm tự do khi người sử dụng có các quyền tự do cơ bản sau:

  1. Quyền tự do sử dụng chương trình đó vì bất kỳ mục đích gì;
  2. Quyền tự do phân phối chương trình đó cho bất kỳ ai;
  3. Quyền tự do sửa đổi chương trình cho phù hợp với mục đích sử dụng của mình; và để có thể sửa đổi được thì mã nguồn phải là mở cho bất kỳ ai cũng có thể có được chúng;
  4. Quyền tự do phân phối lại chương trình đã được sửa đổi;

Về khía cạnh quyền của người sử dụng, phần mềm nguồn mở hầu như không khác gì so với phần mềm tự do. Ngược lại, phần mềm nguồn đóng, hay còn được gọi là phần mềm sở hữu độc quyền, không có bất kỳ quyền tự do nào như với 4 quyền tự do được nêu ở trên.
Ở Việt Nam, phần mềm tự do và phần mềm nguồn mở được gọi chung là phần mềm tự do nguồn mở (PMTDNM).
Một chương trình PMTDNM là không mất tiền để mua, nhưng ngược lại, một phần mềm không mất tiền để mua lại chưa chắc là PMTDNM. Lý do cơ bản ở đây là với PMTDNM thì bạn luôn có được mã nguồn của chương trình phần mềm đó, nếu bạn muốn, còn phần mềm không mất tiền mua thì chưa chắc, vì nó có thể là phần mềm nguồn đóng/phần mềm sở hữu độc quyền, vì thế bạn không thể có mã nguồn của nó.

B. Triết lý của nguồn mở và văn hóa của người Việt Nam
Triết lý của nguồn mở, đôi khi còn được gọi là triết lý của quả táo và ý tưởng, được nêu như sau:

Tôi có một quả táo, bạn có một quả táo, nếu chúng ta trao đổi cho nhau thì mỗi người vẫn có một quả táo. Tôi có một ý tưởng, bạn có một ý tưởng, nếu chúng ta trao đổi cho nhau thì mỗi người sẽ có hai ý tưởng.

Ở đây, quả táo là đại diện cho những thứ hữu hình sờ mó được, như mảnh đất, ngôi nhà, mỏ dầu hay hòn đảo, .v.v.; còn ý tưởng là đại diện cho những thứ vô hình không sờ mó được, như phần mềm, nội dung số, và tất cả những gì là kết quả của việc số hóa – bước đầu tiên của quá trình chuyển đổi số. Điều dễ tưởng tượng là những thứ hữu hình sẽ luôn dần cạn kiệt, trong khi với chuyển đổi số và Internet trong kỷ nguyên số ngày nay, những thứ vô hình sẽ ngày càng nhiều, vô cùng nhiều và ngày càng thừa thãi.
Triết lý trên đã chỉ ra nguyên tắc cộng lực để phát triển và nguyên tắc này chỉ có thể thịnh vượng được khi cùng một lúc có 2 điều kiện, là VÔ HÌNH và MỞ, vì nếu VÔ HÌNH mà ĐÓNG thì cũng không có giá trị do không có chia sẻ, và vì thế không thể có việc mỗi người có hai ý tưởng được.

Hình 1. Triết lý của nguồn mở
Với văn hóa của người Việt Nam bốn ngàn năm lịch sử, ai cũng đều biết tới các thành ngữ mà các thế hệ cha ông truyền đời cho chúng ta như ‘tiền nào của nấy’ hay ‘ăn bánh trả tiền’, chúng thấm vào trong chúng ta và thường điều khiển cách hành xử của chúng ta trong cuộc sống thường ngày. Tuy nhiên, điều khác biệt cơ bản so với ông cha chúng ta hàng ngàn năm trước, là chúng ta ngày nay có Internet, và vì thế có lẽ văn hóa ‘tiền nào của nấy’ hay ‘ăn bánh trả tiền’ khi được áp dụng vào trong nền kinh tế số và xã hội số chủ yếu dựa vào Internet, là không chắc còn phù hợp nữa, bởi chúng ta đều biết rất rõ rằng nhiều ứng dụng, dịch vụ kỹ thuật số trên Internet mà chúng ta sử dụng thường ngày không phải trả tiền, trong khi các ứng dụng dịch vụ đó lại có chất lượng tốt, thậm chí rất tốt, và các hãng tạo ra chúng lại là các tập đoàn giàu có hàng đầu thế giới, như Google, Facebook và nhiều doanh nghiệp số khác trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông[1]. Điều này được giải thích vì các mô hình kinh doanh đi với chúng là khác và/hoặc rất khác so với các mô hình kinh doanh truyền thống, kiểu ‘tiền nào của nấy’ và ‘ăn bánh trả tiền’, bốn ngàn năm lịch sử của người Việt Nam chúng ta.

C. Mô hình phát triển của phần mềm nguồn mở
Bên cạnh triết lý quả táo và ý tưởng, PMTDNM được phát triển tuân theo Luật Linus, nó nêu rằng “Nhiều con mắt soi vào thì lỗi sẽ cạn” (Given enough eyeballs, all bugs are shallow), hoặc như câu nói nổi tiếng của người phát minh ra nhân Linux, Linus Torvalds: “Nói là không có giá trị, hãy cho tôi xem mã nguồn” (Talk is cheap. Show me the code!)[2]. Một chương trình phần mềm mà bạn không thể tải về mã nguồn của nó để xem và soi xét, chắc chắn 100%, nó không phải là phần mềm nguồn mở. Để dễ tưởng tượng, có thể nêu như sau: mã nguồn của một phần mềm nguồn mở do (các) lập trình viên người Việt Nam tạo ra, thì một lập trình viên ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới này, cũng PHẢI có khả năng tải về được từ Internet! Điều này còn cho thấy vai trò không thể thiếu của Internet trong phát triển phần mềm nguồn mở – chính Internet xúc tác để Luật Linus hiện thực hóa được trên phạm vi toàn cầu!
Lưu ý là, bất kể phần mềm được phát triển theo mô hình của phần mềm nguồn mở hay phần mềm nguồn đóng/sở hữu độc quyền, để có lòng tin vào phần mềm ở khía cạnh bảo mật của nó, được khuyến cáo bạn không nên tin tưởng vào bất kỳ phần mềm nào mà bản thân bạn chưa kiểm tra nó, còn nếu bạn phải tin tưởng phần mềm bạn đã không/chưa kiểm tra, thì hãy chọn tin tưởng mã nguồn được phơi ra cho nhiều lập trình viên, những người có khả năng độc lập để nói về các lỗi của phần mềm. Tuân thủ theo Luật Linus không có nghĩa là phần mềm nguồn mở mặc định một cách tự nhiên là bảo mật hơn so với phần mềm sở hữu độc quyền, nhưng các hệ thống có tại chỗ để sửa lỗi được lên kế hoạch, được triển khai, và được phân bổ nhân sự, tốt hơn nhiều[3].
Trên thực tế, hầu hết các phần mềm nguồn mở đều do các cộng đồng lập trình viên phần mềm trên thế giới tạo ra, rất ít người trong số đó là người Việt Nam. Không ít các công ty Việt Nam tải về kho mã nguồn phần mềm nguồn mở, rồi sửa đổi các mã nguồn đó, sau đó đóng nó lại, ngắt bỏ mọi liên hệ với cộng đồng các lập trình viên của thế giới phát triển chính phần mềm đó. Cách làm này là rất không khôn ngoan, vì sau một khoảng thời gian, phần mềm được công ty tùy chỉnh đó có thể sẽ rất khác với phần mềm gốc của cộng đồng thế giới; và vì chúng ta không phải là những người khởi xướng ra phần mềm đó, nên nếu họ thay đổi ở (một) vài phần quan trọng của phần mềm đó, chúng ta sẽ gặp khó, đôi khi hoàn toàn mất khả năng quản lý và kiểm soát đối với phần mềm cùng các phần tùy chỉnh của chúng ta. Để tránh điều này xảy ra, được khuyến cáo gửi ngược lên dòng trên (upstream) toàn bộ phần mã nguồn chúng ta tùy chỉnh về cây dự án gốc của cộng đồng thế giới, để các phiên bản tiếp sau của phần mềm đó có thể có được sự hỗ trợ của toàn bộ cộng đồng thế giới đối với cả các tùy chỉnh của chúng ta[4], như mô hình trên Hình 2. Nói một cách tổng quát, chúng ta cần phát triển nguồn mở cùng và không tách rời khỏi cộng đồng nguồn mở thế giới.

Hình 2. Mô hình phát triển đúng của một dự án phần mềm nguồn mở

  1. Mô hình cấp phép của phần mềm nguồn mở
    Theo Luật sở hữu trí tuệ, ngay khi một tài nguyên – một tác phẩm trí tuệ – được tạo ra, nó sẽ tự động được Luật sở hữu trí tuệ (hoặc Luật bằng sáng chế) bảo vệ, bất kể tác giả của nó có đăng ký tác phẩm đó hay không[5]. Vì thế, chỉ khi được chính (các) tác giả cấp phép mở, tài nguyên mới thực sự là tài nguyên mở, vì người sử dụng rõ ràng có được sự cho phép từ (các) tác giả đối với tài nguyên đó để họ sử dụng mà không vi phạm bất kỳ bản quyền/các quyền sở hữu trí tuệ nào của (các) tác giả được Luật sở hữu trí tuệ bảo vệ. Điều này giải thích vì sao:
  • Một chương trình phần mềm không được cấp phép mở thì 100% không phải là PMTDNM. Cộng đồng phần mềm nguồn mở thế giới coi các phần mềm được gọi là ‘MỞ’ dạng này là Open Washing, tạm dịch sang tiếng Việt là “tráng qua hàng mở” hay “phần mềm nguồn mở RỞM”.
  • Tương tự, một tài nguyên không được cấp phép mở thì tài nguyên đó 100% không là tài nguyên mở, không là tài nguyên truy cập mở, không là dữ liệu mở, không là tài nguyên giáo dục mở, và nhiều nhất, chúng chỉ có thể được gọi là “tài nguyên mở RỞM”.

Đáng tiếc là tình trạng “phần mềm nguồn mở RỞM” và/hoặc “tài nguyên mở RỞM” là rất phổ biến hiện nay ở Việt Nam, mà nguyên nhân sâu xa của nó có lẽ là do không một cơ sở giáo dục nào ở mọi cấp học của Việt Nam dạy về cấp phép mở, trong khi nhà nước cũng không có chính sách nào về cấp phép mở cho tới nay.
Một khi tài nguyên được cấp phép mở, tùy thuộc vào giấy phép mở được gắn vào từng tài nguyên đó, chúng sẽ được gọi với những cái tên khác nhau, như tài nguyên truy cập mở, tài nguyên giáo dục mở hay dữ liệu mở, như trên Hình 3.

Hình 3. Tên gọi của tài nguyên khác nhau, tùy thuộc vào giấy phép mở được gắn với nó
Một dạng đặc biệt của các tài nguyên mở là các tài nguyên nằm trong phạm vi công cộng như được minh họa ở phần cao nhất trên Hình 3, chúng có ở 2 dạng: (1) các tài nguyên đã hết thời hạn bảo hộ của Luật sở hữu trí tuệ hoặc Luật bằng sáng chế và chúng thường đi với dấu phạm vi công cộng (Public Domain Mark[6]); (2) các tài nguyên mà tác giả của nó khước từ tất cả các quyền và hiến tặng vào phạm vi công cộng, và chúng thường đi với công cụ/giấy phép CC0[7]. Các tài nguyên dạng này còn được gọi là các tài nguyên không có bản quyền (No Copyright). Để dễ hình dung, hầu như tất cả các tác phẩm do các tác giả người Việt Nam xuất bản từ thế kỷ 19 trở về trước đều nằm trong phạm vi công cộng và phần lớn chúng nằm trong các viện bảo tàng, kho lưu trữ và/hoặc thư viện, những nơi mà bất kỳ ai cũng có quyền tự do không mất tiền để truy cập tới chúng. Được khuyến cáo, khi tiến hành số hóa các tài nguyên dạng này thì phiên bản số hóa của chúng cũng nên nằm trong phạm vi công cộng[8] để không tước đoạt đi quyền truy cập tự do không mất tiền không chỉ của gần 100 triệu người Việt Nam, mà còn cả của gần 8 tỷ người trên thế giới.

(xem tiếp Phần 2)

  1. Các chú giải
    [1] Lê Trung Nghĩa, 2020: Chuyển đổi số: Cách tiếp cận mới về Mởhttps://giaoducmo.avnuc.vn/bai-viet-toan-van/chuyen-doi-so-cach-tiep-can-moi-ve-mo-280.htmlCC BY.
    [2] Linus Torvalds > Quotes: https://www.goodreads.com/author/quotes/92867.Linus_Torvalds
    [3] OpenSource.com: Understanding Linus’s Law for open source securityhttps://opensource.com/article/21/2/open-source-security. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa có tại địa chỉ: https://giaoducmo.avnuc.vn/phan-mem-tu-do-nguon-mo/hieu-luat-linus-ve-bao-mat-cua-nguon-mo-431.html
    [4] Linux Foundation, 2012: Upstreaming: Strengthening Open Source Development. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: https://www.dropbox.com/s/ao6fprcmn3uzexx/lf_upstreaming_os_dev-Vi-31012012.pdf?dl=0
    [5] Creative Commons: Creative Commons Certificate for Educators, Academic Librarians and GLAM; Unit 2: Copyright Lawhttps://certificates.creativecommons.org/cccertedu/chapter/2-1-copyright-basics/
    [6] Creative Commons: Public Domain Markhttps://creativecommons.org/share-your-work/public-domain/pdm
    [7] Creative Commons: CC0https://creativecommons.org/share-your-work/public-domain/cc0
    [8] Lê Trung Nghĩa, 2020: Chuyển đổi số của ngành văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp lần thứ tư và khía cạnh chuyển thể các tác phẩm và di sản văn hóa đang nằm trong phạm vi công cộng sang dạng kỹ thuật số: https://giaoducmo.avnuc.vn/bai-viet-toan-van/chuyen-doi-so-cua-nganh-van-hoa-trong-boi-canh-hoi-nhap-quoc-te-va-cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-tu-va-khia-canh-chuyen-the-cac-tac-pham-va-di-san-van-hoa-dang-nam-trong-pham-vi-cong-cong-sang-dang-ky-thuat-so-312.htmlGiấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế
    Lê Trung Nghĩa

 

 

 

Những điều cơ bản về nguồn mở (Phần 2)

Lê Trung Nghĩa

Thứ tư – 04/08/2021 05:09

Tiếp theo kỳ trước – xem Phần 1 – và hết

(Bài đăng trên tạp chí Tia Sáng, số 14 xuất bản ngày 20/07/2021, các trang 32-35. Phiên bản điện tử có tại địa chỉ: https://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Nhung-dieu-co-ban-ve-nguon-mo-phan-2–28324)

Cả phần mềm nguồn đóng và PMTDNM đều có một giấy phép. Nếu như trong thế giới phần mềm nguồn đóng chỉ có một loại giấy phép duy nhất được gọi là thỏa thuận giấy phép của người sử dụng đầu cuối – EULA (End User License Agreement), thì thế giới nguồn mở lại có hàng chục loại giấy phép mở với các mức độ tự do khác nhau cho phần mềm tự do[9] và phần mềm nguồn mở[10]; cũng như có nhiều giấy phép mở, như của hệ thống giấy phép mở Creative Commons[11], cho các dạng nội dung khác nhau như văn bản, hình ảnh, âm thanh, video, .v.v., với các mức độ tự do khác nhau.
Điều quan trọng được nhấn mạnh ở đây là các hệ thống cấp phép mở cho PMTDNM và các nội dung mở được xây dựng dựa trên các Luật sở hữu trí tuệ sẵn có, chứ không phải dựa vào các luật nào đó đặc biệt dành cho thế giới nguồn mở. Vì thế, nhận thức như thể chỉ có một chế độ quyền tác giả duy nhất là không đúng, như được nêu trong một tài liệu do UNESCO xuất bản năm 2015[12], rằng tổng cộng có tới 3 chế độ quyền tác giả, đó là: (1) Copyright; (2) Copyleft; và (3) Creative Commons; trong đó 2 chế độ sau thường được sử dụng cho PMTDNM và nội dung mở, một cách tương ứng.

Hình 4. Các chế độ quyền tác giả

Khi sử dụng, đặc biệt là khi sửa đổi và/hoặc tùy biến thích nghi các PMTDNM, mã nguồn mở và nội dung mở do các cộng đồng nguồn mở làm ra để tạo ra các tài nguyên/tác phẩm phái sinh, điều quan trọng là bạn nhất định không được quên việc phải thừa nhận ghi công (các) tác giả đối với chúng. Hành vi này thể hiện sự tôn trọng (không vi phạm) bản quyền của bạn đối với (các) tác giả; ngược lại, hành vi không thừa nhận ghi công tài nguyên/tác phẩm không phải do tự bạn làm ra, được gọi là ‘ăn cắp’.
Ngày nay, số lượng các tệp mã nguồn phần mềm được chia sẻ tự do không mất tiền với các giấy phép mở là vô cùng nhiều, hơn 10 tỷ tệp trong hơn 161 triệu dự án phần mềm nguồn mở khắp trên thế giới, theo trang Software Heritage[13]. Tương tự, số lượng các tệp nội dung được cấp phép mở Creative Commons là gần 2 tỷ[14]. Điều này cho thấy, các cộng đồng nguồn mở trên thế giới là lớn tới mức nào.

Hình 5. Software Heritage: Số lượng các tệp mã nguồn và dự án phần mềm nguồn mở

  1. Mô hình cộng đồng của nguồn mở
    Một đặc tính khác để phân biệt giữa phần mềm nguồn mở và phần mềm nguồn đóng là ở câu hỏi ‘Ai là chủ sở hữu của phần mềm?’. Chủ sở hữu của các phần mềm nguồn đóng thường là của các công ty hoặc các tập đoàn, dù đôi khi là của cá nhân; trong khi chủ sở hữu của các phần mềm nguồn mở thường lại là của các cộng đồng, bao gồm cả các lập trình viên phát triển phần mềm nguồn mở đó đang làm việc trong các công ty/tập đoàn khác nhau. Ví dụ điển hình nhất là nhân Linux – một chương trình phần mềm nguồn mở nổi tiếng nhất trong thế giới nguồn mở với giấy phép mở GPL v.2, từ năm 2005 đã do cộng đồng của hơn 7.800 lập trình viên tới từ hơn 800 công ty khắp trên thế giới cùng phát triển[15], bao gồm cả các tập đoàn khổng lồ đa quốc gia như IBM, Microsoft .v.v., và nằm dưới sự quản lý không phải của bất kỳ công ty/tập đoàn nào, mà của Quỹ Linux (Linux Foundation) – tổ chức đại diện cho cộng động của tất cả các lập trình viên đó, cùng với nhiều lập trình viên tự do không làm việc cho bất kỳ một công ty/tập đoàn nào nhưng có các đóng góp để phát triển nhân Linux.
    Vì cộng đồng, chứ không phải công ty, mới là yếu tố chính để phát triển thành công bất kỳ phần mềm nguồn mở nào, nên việc xây dựng các cộng đồng nguồn mở có vai trò trung tâm trong việc phát triển phần mềm nguồn mở cũng như phát triển công nghệ mở. Quân đội Mỹ từ lâu đã nêu 15 yếu tố quyết định cho sự thành công của phát triển công nghệ mở nhằm có được các phần mềm tốt nhất trong quân sự[16], trong đó khẳng định 2 yếu tố quan trọng hàng đầu là: (1) Cộng đồng trước, công nghệ sau; (2) Mở là mặc định, đóng chỉ khi cần. Lý lẽ đằng sau việc này là vì ngày nay, phần mềm được sử dụng để chế tạo và điều khiển vũ khí, nó không thể bị phụ thuộc vào bất kỳ công ty/tập đoàn nào; vì việc thắng hay bại khi có xung đột hay chiến tranh không thể phụ thuộc vào cái gật hay lắc đầu của ông giám đốc công ty/tập đoàn bất kỳ nào được.
    Từ mô hình phát triển phần mềm nguồn mở được nêu ở trên, để ‘nhiều con mắt soi vào thì lỗi sẽ cạn’ và để bất kỳ ai cũng có thể tải về mã nguồn của phần mềm nguồn mở bất kỳ nào, mã nguồn sẽ được đặt trên Internet không biên giới. Điều này giúp giải thích vì sao các cộng đồng nguồn mở hầu hết có phạm vi toàn cầu (3 trong số 4 dạng cộng đồng), chứ không bị giới hạn bởi đường biên giới của một quốc gia, như trên Hình 6.

Hình 6. Các dạng cộng đồng nguồn mở và phạm vi toàn cầu của nó[17]

Một đặc tính khác trong phát triển phần mềm nguồn mở là có sự tham gia không chỉ của các lập trình viên phần mềm, mà còn cả những người sử dụng nữa – họ có thể có các vai trò, ví dụ như, trong phát hiện/báo cáo lỗi hoặc đề xuất xây dựng mới/tùy chỉnh các chức năng phần mềm, nên cộng đồng của một dự án phần mềm nguồn mở bao gồm tất cả các lập trình viên và người sử dụng, như trên Hình 7.

Hình 7. Thành phần của cộng đồng một dự án PMTDNM[18]

Việc quản lý điều hành các cộng đồng một dự án phần mềm nguồn mở thường có ở 2 dạng chính[19]: (1) Nhà độc tài nhân từ (Benevolent Dictatorship), ví dụ điển hình của dạng này là với Quỹ Linux, nơi quản lý điều hành việc phát triển nhân Linux, do người phát minh ra nhân Linux, Linus Torvalds, dẫn dắt; (2) Người tài lãnh đạo (Meritocracy), ví dụ điển hình của dạng này là như với Quỹ phần mềm Apache, nơi quản lý điều hành nhiều dự án phần mềm mang giấy phép mở Apache, một trong số đó là dự án máy chủ web Apache nổi tiếng thế giới, hay bộ phần mềm văn phòng nguồn mở OpenOffice.

Hình 8. Các mô hình quản lý điều hành dự án phần mềm nguồn mở[20]

  1. Mô hình kinh doanh của nguồn mở
    Do đặc thù của việc phát triển và cấp phép mở của PMTDNM dẫn tới việc hầu như ai cũng có thể tải về để sử dụng cả mã nguồn cũng như mã nhị phân của các sản phẩm PMTDNM đó một cách hoàn toàn hợp pháp; điều tương tự đối với các nội dung mở như các tài nguyên truy cập mở, dữ liệu mở hay tài nguyên giáo dục mở. Điều này dẫn tới việc các mô hình kinh doanh của thế giới nguồn mở nói chung, bao gồm cả các PMTDNM và nội dung mở, là khác so với các mô hình kinh doanh truyền thống của thế giới nguồn đóng theo kiểu ‘ăn bánh trả tiền’, như được nêu ở phần đầu. Thông thường, mô hình doanh thu của các PMTDNM và nội dung mở là dựa vào việc bán các dịch vụxung quanh các sản phẩm nguồn mở (cả các PMTDNM và các dạng nội dung mở), chứ không dựa vào việc thu tiền từ việc bán trực tiếp các sản phẩmcủa chung cộng đồng. Ví dụ, bạn hoàn toàn tự do không mất tiền để tải về và cài đặt bộ phần mềm văn phòng nguồn mở LibreOffice lên máy tính của bạn để sử dụng hàng ngày, nhưng để sử dụng nó được nó tốt nhất, bạn có thể phải mất tiền để mua các dịch vụ đào tạo và/hoặc tùy chỉnh để có một tính năng mới mà bạn cần sử dụng thêm với nó. Nhiều ví dụ về các mô hình kinh doanh của PMTDNM được nêu trong tài liệu ‘Các khía cạnh kinh tế và các mô hình kinh doanh của phần mềm tự do’[21]; cũng như 24 ví dụ về các mô hình doanh thu với các dạng nội dung số được cấp phép mở Creative Commons được nêu trong tài liệu ‘Làm bằng Creative Commons[22]’, có lẽ là rất cần được tham khảo và giảng dạy trong các cơ sở giáo dục mọi cấp học ở Việt Nam từ nay trở đi.G. Kết luận và gợi ý
    Thế giới của các PMTDNM và nội dung mở, nhất là nội dung số mở, có triết lý, các nguyên tắc, luật lệ và mô hình của nó. Chúng là khác và/hoặc rất khác, thậm chí là trái ngược hoàn toàn với những điều tương tự của thế giới của phần mềm và nội dung (số) nguồn đóng/sở hữu độc quyền theo truyền thống.
    Để ứng dụng và phát triển tốt được PMTDNM và nội dung (số) mở, bạn không thể cứ duy trì và sử dụng tư duy đóng truyền thống, mà cách tốt nhất là thông qua giáo dục và truyền thông để thay đổi từ tư duy đóng sang mở, ở mức độ phạm vi càng rộng, càng sâu và càng sớm càng tốt; tốt nhất là từ các học sinh tiểu học.
    Một khi triết lý, các nguyên tắc, luật lệ và các mô hình của thế giới nguồn mở hầu như không được dạy ở bất kỳ đâu trong các cơ sở giáo dục mọi cấp ở Việt Nam, sẽ là dễ hiểu vì sao vô cùng hiếm thấy các sản phẩm nguồn mở đích thực “Make in Vietnam” hiện nay. Mặt khác, các sản phẩm phần mềm và nội dung số MỞ “Make in Vietnam” cần tuân thủ với triết lý, các nguyên tắc, luật lệ và các mô hình của thế giới nguồn mở, phải luôn được “phát triển cùng và không tách rời khỏi cộng đồng nguồn mở thế giới”, tránh xa các lỗi cơ bản như không được cấp phép mở và/hoặc không được xây dựng từ và trong cộng đồng (ví dụ, mã nguồn do các lập trình viên của chỉ một công ty và không có người ngoài công ty nào phát triển cùng; hoặc mã nguồn không nằm trên các kho mã nguồn mở trên Internet, ví dụ như, GibLab hoặc GitHub, .v.v.); hay tệ hơn, lấy mã nguồn của một dự án phần mềm nguồn mở có sẵn trên Internet về rồi sửa nó và tự nhận bản quyền là của mình – hành vi, như được nêu ở phần trên, được gọi là ‘ăn cắp’.
    Với Khuyến cáo Tài nguyên Giáo dục Mở của UNESCO đã được 193 quốc gia trên thế giới thông qua vào ngày 25/11/2019[23] và dự kiến Khuyến cáo Khoa học Mở của UNESCO cũng sẽ được ngần ấy các quốc gia thông qua vào tháng 11/2021, có thể khẳng định chắc chắn là Tài nguyên Giáo dục Mở và Khoa học Mở là xu thế không thể đảo ngược của thế giới ngày nay. Vì cả Tài nguyên Giáo dục Mở và Khoa học Mở đều được truyền cảm hứng và phát triển từ PMTDNM (cả về triết lý, các nguyên tắc, luật lệ, và các mô hình), là không khó để hình dung rằng nếu chưa hiểu và làm tốt được với PMTDNM dù nó đã tới Việt Nam từ hơn 20 năm qua, thì khó có thể làm gì tốt được với Tài nguyên Giáo dục Mở và Khoa học Mở, đặc biệt khi mà, như trong bản thảo Khuyến cáo Khoa học Mở mới nhất được UNESCO xuất bản ngày 12/05/2021[24], cả phần mềm nguồn mở, mã nguồn mở, và Tài nguyên Giáo dục Mở, bên cạnh nhiều điều mở khác, đều là các thành phần chính của Khoa học Mở.
    Rất nhiều công việc cần phải làm để ứng dụng và phát triển tốt nguồn mở ở Việt Nam. Trước mắt gợi ý hai từ khóa cần được đáp ứng càng sớm càng tốt: (1) Cấp phép mở; và (2) Xây dựng các cộng đồng nguồn mở. Trách nhiệm chính của việc đầu chắc chắn nằm ở các cơ quan nhà nước; còn việc sau cần phải là bổn phận của các cơ sở giáo dục và đào tạo, chứ không phải là của các công ty/tập đoàn, dù họ sẽ luôn là các tác nhân hỗ trợ tốt để các cộng đồng nguồn mở phát triển.H. Các chú giải
    [9] FSF: Licenseshttps://www.gnu.org/licenses/license-list.html
    [10] OSI: Open Source Licenses by Categoryhttps://opensource.org/licenses/category
    [11] Creative Commons: About The Licenseshttps://creativecommons.org/licenses/
    [12] Lê Trung Nghĩa, 2018: Không chỉ có một loại quyền tác giảhttps://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/Khong-chi-co-mot-loai-quyen-tac-gia-12644
    [13] Software Heritage: https://www.softwareheritage.org/. Truy cập ngày 10/06/2021.
    [14] Catherine Stihler, Creative Commons, May 24, 2021: Announcing Our 20th Anniversary “Better Sharing” Campaign. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: https://giaoducmo.avnuc.vn/cap-giay-phep-mo/cong-bo-ky-niem-lan-thu-20-chien-dich-chia-se-tot-hon-cua-chung-toi-428.html
    [15] Linux Foundation, 2012: Linux Kernel Development. Bản dịch tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: https://www.dropbox.com/s/386z85gsawuuety/lf_who_writes_linux_2012-Vi-18042012.pdf, tr.2
    [16] US Army, 2011: Open Technology Development (OTD): Lessons Learned & Best Practices for Military Softwarehttps://www.dropbox.com/s/sqsft68wjakvri6/OTD-lessons-learned-military-signed.pdf?dl=0. Bản dịch tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: https://www.dropbox.com/s/7dr3l68df0n8qkd/OTD-Lessons-Learned-And-Best-Practices-For-Military-Software-Vi.pdf, tr. 42
    [17] Matthias Stürmer, 2013: Four types of open source communities. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: https://vnfoss.blogspot.com/2013/10/4-dang-cac-cong-ong-nguon-mo.html
    [18] Tùy biến từ hình ảnh trong bài của Simon Phipps: Community types. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: http://vnfoss.blogspot.com/2011/10/cac-dang-cong-ong.html
    [19] Ross Gardler, Gabriel Hanganu, 2012: Governance models. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: http://vnfoss.blogspot.com/2013/02/cac-mo-hinh-ieu-hanh.html
    [20] Tùy biến từ hình ảnh trong tài liệu của The Linux Foundation, 2011: Understanding the Open SourceDevelopment Model. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: https://www.dropbox.com/s/3s6dbuatgqnmsl6/lf_os_devel_model-Vi-31012012.pdf
    [21] A. Albos Raya et al., 2010: Economic Aspects and Business Models of Free Software. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: https://www.dropbox.com/s/0vs8e8zhvhpgx95/fta-m5-economic_models-Vi–26012015.pdf?dl=0
    [22] Paul Stacey and Sarah Hinchliff Pearson, 2017, CC BY-SA 4.0Made with Creative Commons. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: https://www.dropbox.com/s/a6n50my7owufi6w/Made%20with%20Creative%20Commons_Vi-10022020.pdf?dl=0
    [23] UNESCO, 2019: Recommendation on Open Educational Resources. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: https://www.dropbox.com/s/o6lml26uw88ear2/DCPMS_U1911920_Vi-04122019.pdf?dl=0
    [24] UNESCO, 12/05/2021: Draft text of the Unesco Recommendation on Open Science. Bản dịch sang tiếng Việt của Lê Trung Nghĩa: https://www.dropbox.com/s/hh9havem2m15dka/376893eng_Vi-13052021.pdf?dl=0Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế
    Lê Trung Nghĩa

Bài viết liên quan