NHÌN LẠI VIỆC THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG TỰ CHỦ ĐẠI HỌC

NHÌN LẠI
VIỆC THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG TỰ CHỦ ĐẠI HỌC

                                                                           

TS. ĐẶNG VĂN ĐỊNH

 

Quyền tự chủ đại học thường được nhắc đến với tự chủ học thuật, tự chủ tài chính, tự chủ tổ chức và nhân sự. Các quyền ấy đặt song hành cùng trách nhiệm giải trình. Điều đó được Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học giải thích: “quyền tự chủ là quyền của cơ sở giáo dục đại học được tự xác định mục tiêu và lựa chọn cách thức thực hiện mục tiêu; tự quyết định và có trách nhiệm giải trình về hoạt động chuyên môn, học thuật, tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản và hoạt động khác trên cơ sở quy định của pháp luật và năng lực của cơ sở giáo dục đại học” [Luật sửa đổi, 2018]. Con đường dẫn tới những định chế trên không chỉ vài ba năm mà là vài ba chục năm. Chặng đường đầu tiên (1987-2005) các quy định về tự chủ đại học chủ yếu đan xen trong hoạt động điều hành của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT). Chặng đường tiếp theo (từ 2005 đến nay) nội hàm tự chủ đại học được trải nghiệm, thể chế hóa tại các luật, các văn bản hướng dẫn thực hiện luật.

Báo cáo này nhìn lại tình hình thực hiện chủ trương tự chủ đại học, trọng tâm được đặt vào các trường đại học công lập – những đơn vị chủ lực của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam (GDĐH).

 

  1. Tự chủ đại học Việt Nam giai đoạn trước 2005

 

  1. Bối cảnh

Công cuộc đổi mới GDĐH Việt Nam chuyển biến mạnh sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986). Trong những chủ trương biện pháp lớn nhằm chấn hưng GDĐH có việc “tổ chức lại hệ đào tạo dài hạn tập trung” mà thực chất là “chia tay” phương cách đào tạo theo mô hình của Liên Xô để tiếp cận nền GDĐH mà phần lớn các nước theo nền kinh tế thị trường đang vận hành.  Bên cạnh đó, việc “tổ chức và mở rộng nhiều loại hình đào tạo” được đặt ra nhằm đáp ứng nhu cầu thụ hưởng GDĐH của nhân dân và tìm kiếm nguồn lực cho GDĐH. Các mô hình trường: đại học quốc gia (ĐHQG), đại học vùng (ĐHV), đại học bán công (ĐHBC), đại học dân lập (ĐHDL) lần lượt ra đời.

Những công việc mới mẻ đó được thực hiện trong điều kiện ngân sách nhà nước (NSNN) dành cho GDĐH rất hạn chế. Bù lại sự thiếu hụt đó nhà nước phân quyền cho lãnh đạo nhà trường. Nội dung phân quyền được lồng ghép trong các quy chế “tạm thời” của Bộ GD&ĐT hoặc quy chế riêng của Thủ tướng Chính phủ. Về thực chất, đó chính là bước khởi đầu đưa tự chủ đại học vào cuộc sống.

 

  1. Đặc điểm tự chủ và tình hình thực hiện ở các mô hình trường đại học mới

Trước 2005, khó tìm thấy cụm từ “tự chủ đại học” ở các văn bản điều hành của nhà nước, song quan sát cho kỹ thì việc tăng quyền tự chủ cho các cơ sở GDĐH được lồng ghép trong các quy chế tổ chức hoạt động đối với từng mô hình trường đại học như: ĐHQG, ĐHV, ĐHBC và ĐHĐL.

Mô hình ĐHQG.   Đây là cơ sở GDĐH đa lĩnh vực được hình thành bởi việc tổ chức lại một số trường đại học công lập (ĐHCL) nhằm kiến tạo những trung tâm đào tạo, nghiên cứu hàng đầu của Việt Nam. Mô hình này hoạt động theo quy chế riêng do Thủ tướng Chính phủ ban hành. Trong đó quy định, ĐHQG “có quyền chủ động cao trong các hoạt động về đào tạo, nghiên cứu khoa học – công nghệ, tài chính, quan hệ quốc tế và tổ chức bộ máy”. Các ĐHQG không có bộ chủ quản, chịu sự quản lý nhà nước của các bộ/ngành liên quan; về hoạt động đào tạo nghiên cứu chịu quản lý nhà nước của Bộ GD&ĐT và Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN); về hoạt động tài chính chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Tài Chính; về tổ chức và nhân sự chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ. Đặc biệt, ĐHQG là một pháp nhân độc lập, sử dụng con dấu quốc huy, được nhà nước tập trung đầu tư cao và dự toán kinh phí cấp I,  được quyền tự quyết cả về mở ngành, sử dụng mẫu văn bằng riêng, chủ động hợp tác quốc tế, phong chức danh giáo sư danh dự [Quy chế tổ chức và hoạt động của ĐHQG, 1994, 1997, 2001].

Dẫu là một pháp nhân độc lập, nhưng có những việc khá quan trọng mà ĐHQG không thể làm được, chẳng hạn việc: (i) sử dụng hiệu quả đội ngũ và cơ sở vật chất có thể dùng chung; (ii) sử dụng hiệu quả đầu tư của nhà nước ở địa điểm quy hoạch. Nguyên nhân dẫn đến những thiếu hụt này là do việc chấp nhận mô hình đại học “hai cấp”; kế đến là sự lạc hậu của một số luật, nhất là Luật đất đai, Luật Ngân sách nhà nước, Luật quản lý sử dụng tài sản công vv.

Mô hình ĐHV.   Xét về tổ chức đào tạo đây cũng là đại học đa lĩnh vực. Các nhà trường ĐHV không phải là pháp nhân độc lập, chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ GD&ĐT. ĐHV hoạt động theo quy chế riêng do Bộ GD& ĐT ban hành. Theo đó, ĐHV cũng lặp lại mô hình đại học “hai cấp”, còn các quyền tự chủ về học thuật, về tài chính, về tổ chức và nhân sự của các ĐHV tương tự như đối với các trường đại học công lập “đại trà”. Thêm vào đó nhà nước đầu tư cho các ĐHV không nhiều.  Bởi vậy, những gì không mong đợi ở mô hình ĐHQG đều lặp lại ở ĐHV một cách đậm nét hơn.  Có lẽ, đây là nguyên nhân chính dẫn tới một số trường đại học thành viên thuộc ĐHV có xu hướng ly khai.

Mô hình ĐHBC.  Quy chế tạm thời trường đại học bán công (QC-ĐHBC) do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành năm 1994, đã trao cho Hội đồng quản trị (HĐQT) nhà trường nhiều quyền. Đáng lưu ý là các quyền: (i) tự xác định quy mô đào tạo, kế hoạch tuyển sinh, nghiên cứu khoa học; (ii) tự xác định cơ cấu tổ chức và bộ máy, đề cử hiệu trưởng, quy định tuyển dụng; (iii) tự xác định phương hướng huy động vốn, các hình thức hợp tác với những tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; quy định cơ chế quản lý tài chính và sử dụng kinh phí hàng năm; quy định chế độ tiền lương [Quy chế tạm thời trường đại học bán công, 1994].

Có 5 cơ sở GDĐH bán công, tất cả đều ở thành phố Hồ Chí Minh. Ngược dòng thời gian, những năm 2003-2008 Trường Đại học bán công Tôn Đức Thắng là một trong năm trường đó. Dựa vào cơ chế “bán công”, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã giao cho nhà trường 90.725m2 đất tại phường Tân Phong, quận 7 cùng số tiền vào khoảng 50 tỷ đồng từ ngân sách để đền bù cho dân. Ông Đặng Ngọc Tùng nguyên Chủ tịch HĐQT nhà trường cho hay, khi chia tay với mô hình ĐHBC để thành trường ĐHCL nhằm “thực hiện chương trình xây dựng giai cấp công nhân Thành phố”, lãnh đạo nhà trường “chỉ xin cơ chế tài chính như trường ngoài công lập         [https://laodong.vn/cong-doan/]. Điều này được Thủ tướng Chính phủ ủng hộ, nó chính là điểm tựa làm nên sự bứt phá của Trường Đại học Tôn Đức Thắng sau này, và hơn thế nữa, nó chứng tỏ cơ chế tự chủ tài chính đối với các ĐHBC có giá trị thực tiễn.

Cũng vào khoảng thời gian đó, dựa vào Qui chế ĐHBC, Đại học Mở bán công thành phố Hồ Chí Minh đã “thông báo chiêu sinh với tiêu chí cơ bản là tốt nghiệp phổ thông và không ở trong thời gian thi hành án”; đã tự mở ngành “phụ nữ học” không hề có trong danh mục ngành của nhà nước; khi đàm phán tuyển lãnh đạo khoa lại yêu cầu ứng viên “phải tự trả lương ”… Nhờ cách làm mới, nên “chỉ hơn 2 năm sau ngày thành lập, số lượng sinh viên đã vượt quá con số  30.000 [Cao Văn Phường, 2019].

Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB) chỉ ra rằng trong tổng nguồn thu của các cơ sở ĐHBC, kinh phí đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN) chiếm 8% (trong khi ở trường công lập con số này là 69%), thu từ học phí chiếm hơn 87% (cao hơn 3 lần so với tỷ lệ thu hồi chi phí ở các trường công lập) [Ngân hàng Thế giới, 2008].

Chưa thấy nhận định đánh giá nào của Nhà nước, nhưng trực giác dễ nhận ra mô hình ĐHBC đứng ở chỗ giao nhau giữa công và tư. Nhờ vị thế “chân trong chân ngoài” này cả 5 trường bán công đều tiếp cận được những ưu đãi của nhà nước đối với GDĐH công lập, đồng thời sử dụng hiệu quả quyền tự chủ về tài chính, thích ứng cơ chế thị trường. Luật Gíao dục 2005 khép lại mô hình ĐHBC, nhưng những định chế “tự chủ” đối với mô hình này là chất liệu tốt để kiến tạo cơ chế chính sách tự chủ đại học sau này.

Mô hình ĐHDL.  Có một thực tế là Quy chế Đại học tư thục ban hành theo Quyết  định số 240-TTg ngày 24/6/1993 của Thủ tướng Chính phủ (Qui chế 240), và gần 6 tháng sau, ngày 21/1/1994 Quy chế tạm thời Đại học dân lập được ban hành theo Quyết định 196/TCCB của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT (Qui chế 196). Gần đây (2021) nhân cuộc tọa đàm về loại hình GDĐH ngoài công lập, người đứng đầu ngành giáo dục hồi đó cho hay, bản chất hai quy chế giống nhau, đều là tư thục. Nhưng Qui chế 240 không được cấp trên đồng ý mà thay vào đó là Qui chế 196 (Quy chế tạm thời Đại học dân lập).

Theo Qui chế 196 thì HĐQT nhà trường được “quyết định về mọi vấn đề liên quan đến tài chính, bộ máy điều hành, chế độ tuyển dụng, lương bổng của giáo chức, kế hoạch tuyển sinh, chương trình đào tạo, chế độ học bổng học phí, mối quan hệ với các đại học trong nước và quốc tế” (Điều 9). Đặc biệt, còn được “mở bất kỳ ngành đào tạo đại học nào, có thể nằm ngoài dạnh mục đào tạo của nhà nước” miễn là bảo vệ thành công trước hội đồng tư vấn của Bộ GD&ĐT về ngành đào tạo; được “cấp các văn bằng và chứng chỉ tương ứng với các cấp và ngành đào tạo đã đăng ký và đã được Bộ GD&ĐT phê duyệt” (các điều 20, 21).

Sự thông thoáng trên đem đến những đột phá tích cực. Trước hết là tạo dựng mô hình nhà trường mới, nuôi dưỡng chủ trương xã hội hóa, nhằm mở rộng cơ hội học tập cho nhân dân đồng thời thu hút nguồn lực cho GDĐH. Bên cạnh đó, việc trao quyền tự chủ cao nhưng chưa song hành với trách nhiệm giải trình và biện pháp giám sát còn kém hiệu quả đã làm nảy sinh những vụ việc không đáng có, ví dụ: (i) một số trường có hiện tượng không đoàn kết giữa các nhóm lợi ích trong đội ngũ sáng lập; (ii) tình trạng vượt rào tuyển sinh, mưu lợi gây hậu quả nghiêm trọng, thậm chí một số nhà giáo rơi vào vòng lao lý.

Trong bối cảnh ấy, năm 2000, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế trường đại học dân lập kèm theo Quyết định số 86/2000/QĐ-TTg (Qui chế 86). Quy chế này có những định chế mới đáng lưu ý: (i) “tài sản của trường thuộc quyền sở hữu tập thể của những người góp vốn đầu tư, các giảng viên, cán bộ và nhân viên nhà trường”; (ii) trường ĐHDL phải có tổ chức xin thành lập trường; (iii) định vị lại hoạt động đào tạo nghiên cứu của các trường ĐHDL như đối với các trường đại học công lập “đại trà”.

Thực hiện Luật Giáo dục 2005, Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn luật, trong đó quy định không có mô hình ĐHDL, bởi thế phải chuyển 19 trường  ĐHDL sang mô hình tư thục. Đã 15 năm trôi qua, bằng 2 thông tư hướng dẫn của Bộ GD&ĐT mà nay vẫn còn 2 trường trụ lại mô hình ĐHDL.

Vì sao vậy? Trong quy chế ĐHDL đầu tiên (Qui chế 196) quy định “ ĐHDL có thể chuyển sang các loại hình khác nếu như có sự thay đổi về cơ cấu đầu tư ,…Việc thay đổi này phải được nhất trí giữa các bên tham gia xây dựng ĐHDL” (Điều 39). Câu trả lời thỏa đáng chỉ có thể dựa vào việc bảo đảm quyền tài sản của những người góp vốn đầu tư và các bên liên quan.

Thông qua hoạt động của các mô hình ĐHQG, ĐHV, ĐHBC, ĐHDL có thể nhận ra rằng:  giai đoạn từ 1987-2005 quyền tự chủ về học thuật ở các cơ sở GDĐH chỉ mới “nới lỏng” cho mô hình ĐHQG, mô hình ĐHBC và mô hình ĐHDL; quyền tự chủ tài chính và tổ chức nhân sự đã phát huy tác dụng ở các mô hình trường ĐHBC, ĐHDL. Riêng về trách nhiệm giải trình còn rất mờ nhạt, “không có kiểm soát” [6].  Bức tranh chung về đặc điểm tự chủ của các cơ sở GDĐH Việt Nam giai đoạn trước 2005 được tóm tắt ở Bảng 1.

 

Bảng 1. Đặc điểm tự chủ của các cơ sở GDĐH giai đoạn trước 2005

Loại hình sở hữu

Mô hình trườngTự chủ học thuậtTự chủ về tổ chức và nhân sự 

Tự chủ
tài chính

 

Trách nhiệm
giải trình

CÔNG LẬPĐại học Quốc giaTự quyết định theo quy định chung của Bộ GD&ĐT.Tự mở ngành mới, có mẫu văn bằng  riêng.Tự quyết định theo quy chế tổ chức và hoạt động do TTg CP ban hành.  Tự quyết định nhân sự trong ĐHQG phù hợp với luật công chức, viên chức. .Là đơn vị dự toán cấp I.  Tự quyết định thu chi, sử dụng tài sản theo luật NS và Luật tài sản công và quy định của Bộ Tài chínhKhông có kiểm soát nội bộ, kiểm soát bên ngoài do Bộ GD&ĐT thực hiện nhưng không rõ ràng  và gần như không thực hiện được .

 

 

Đại học vùngTheo quy chế đào tạo  của  Bộ  GD&ĐT

 

Theo quy định của Bộ Nội vụ và  cơ quan chủ quản.

 

Theo quy định của Bộ Tài chính

 

Trường ĐH  công  khác
NGOÀI CÔNG LẬPT.ĐHBCTự chủ cao

 

Tự chủ cao
T.. ĐHDL

 

  1. Tự chủ đại học Việt Nam giai đoạn từ 2005 tới nay

 

  1. Bối cảnh

Giai đoạn từ 2005 đến nay, kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình thấp. Cơ cấu kinh tế nước ta đã bước đầu chuyển dịch theo hướng hiện đại. Điều này đòi hỏi các nhà trường đại học cung cấp lực lượng lao động gắn với trình độ công nghệ sản xuất, đáp ứng nhu cầu của các ngành kinh tế, xã hội.

Tuy nhiên việc thực hiện nhiệm vụ đó diễn ra trong điều kiện đầu tư của nhà nước cho GDĐH ngày một bó hẹp. Hiện nay chỉ có 0,33% GDP  được đầu tư cho GDĐH. Đây là một trong những mức đầu tư thấp nhất thế giới khi trung bình của các nước OECD là 1,1% – phát biểu của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT tại Hội nghị toàn quốc về phát triển bền vững năm 2019. Vấn đề khó khăn  nhất mà các cơ sở GDĐH phải đối mặt là nguồn lực- nó được tăng lên bằng cách nào?

 

  1. Phát triển và thực hiện cơ chế chính sách tự chủ đại học

Từ sau 2005, xu thế hội nhập của giáo dục Việt Nam với thế giới rõ rệt. Chỉ trong những năm 2004-2014 lĩnh vực giáo dục và dạy nghề đã thu hút khoảng  80 chương trình dự án ODA với tổng kinh phí là 2.157 triệu USD. Trong đó có “Chương trình phát triển chính sách giáo dục đại học do WB tài trợ với số vốn vay 150 triệu USD nhằm hỗ trợ thực hiện các chính sách tăng cường quản trị, tài chính và chất lượng giáo dục” [Đặng Văn Định, 2015]. Kinh nghiệm quốc tế cùng với những trải nghiệm từ thực tế của Việt nam đã mách bảo các nhà hoạch định chính sách giáo dục lựa chọn tự chủ đại học làm giải pháp cốt lõi. Dưới đây xin điểm lại những nỗ lực ấy.

–  Cuối năm 2005 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP về “Đổi mới cán bản và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020” (NQ-14). Theo đó, Chính phủ chỉ đạo: “hoàn thiện chính sách phát triển GDĐH theo hướng bảo đảm quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của cơ sở GDĐH”, “xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản, xây dựng cơ chế đại diện sở hữu nhà nước đối với các cơ sở GDĐH công lập”.

– Năm 2012, Luật GDĐH đầu tiên của Việt Nam được Quốc hội thông qua. Tại Điều 32 luật này quy định: “cơ sở GDĐH tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng GDĐH”.

Tuy nhiên việc thực hiện tự chủ đại học theo Luật GDĐH diễn ra rất chậm trong khi nhu cầu chi phí cho giáo dục càng tăng cao. Ngánách Nhà nước được tập trung cho giáo dục phổ thông, phần dành cho GDĐH ngày càng thu hẹp. Chính phủ kỳ vọng giảm bớt khó khăn của các cơ sở GDĐH công lập thông qua việc thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập (NĐ-43). Tinh thần chung của NĐ-43 là nhà nước tăng quyền tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, về tổ chức nhân sự và chi tiêu của các đơn vị sự nghiệp công lập theo mức độ tự lo kinh phí. Có 4 mức độ: (i) tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư. (ii) tự  bảo đảm chi thường xuyên; (iii) tự  bảo đảm một phần chi thường xuyên; (iv) Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên.

–  Năm 2014 Chính phủ ra nghị quyết số 77 /NQ-CP về về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở GDĐH công lập giai đoạn 2014-2017 (NQ-77). Để “đổi lấy” quyền tự chủ toàn diện, các cơ sở GDĐH công lập phải tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư – mức tự bảo đảm kinh phí cao nhất theo NĐ-43.

Mục tiêu to lớn được Chính phủ theo đuổi là “khuyến khích các cơ sở GDĐH công lập chủ động khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn lực để nâng cao chất lượng đào tạo đại học và giảm chi cho ngân sách Nhà nước đồng thời không làm giảm cơ hội tiếp cận GDĐH của sinh viên nghèo, sinh viên là đối tượng chính sách”. Để thực hiện mục tiêu này, tại NQ-77 Chính phủ làm rõ hơn các quyền tự chủ của cơ sở GDĐH theo các nhóm việc: (i). thực hiện nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học; (ii) tổ chức bộ máy, nhân sự; (iii). tài chính; (iv) chính sách học bổng, học phí đối với đối tượng chính sách; (v). đầu tư, mua sắm. Những năm 2014-2017 công cuộc thí điểm được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo quyết liệt. Cuối năm 2017, Bộ GD&ĐT tổng kết thực hiện NQ-77, đã rút ra nhiều nhận định quan trọng.  Xin điểm lại:

  • Về mặt tích cực, đã có 23 trường tham gia thí điểm, chứ không dừng ở con số 4 nêu trong NQ-77. Có tới  81% người (trong diện thí điểm) được hỏi cho rằng “tự chủ là xu hướng tất yếu trong điều kiện hiện nay”, hay “tự chủ đại học là chủ trương đúng đắn”. Báo cáo của Bộ GD&ĐT nhận định “viêc thực hiện tự chủ của các cơ sở GDĐH bước đầu đạt một số kết quả đáng khích lệ, giúp giảm bớt các thủ tục hành chính nên đã chủ động, linh hoạt hơn trong tổ chức thực hiện các hoạt động của nhà trường, từng bước chủ động đổi mới cơ chế hoạt động ngày càng hiệu quả.  Mô hình thí điểm tự chủ bước đầu được đánh giá tích cực, các cơ sở GDĐH đã có những thành tựu nhất định và dược xã hội chấp nhận”.
  • Về tác động tới tự chủ đại học đã được nhìn nhận từ nhiều góc độ. Ba nhóm vấn đề chính là cơ chế chính sách, cơ quan chủ quản, nhận thức về tự chủ đại học được phân tích kỹ lưỡng. Chỉ xin điểm lại một số hạn chế chính trong quá trình thực hiện tự chủ đại học được Báo cáo đánh giá của Bộ GD&ĐT nêu ra, đó là: (i) Tính không đồng bộ của pháp luật khiến những “thông thoáng” từ NQ-77 và các quyết định cá biệt của Thủ tướng Chính phủ cho từng trường đều không thể vượt qua các luật, mà trước hết là Luật GDĐH, Luật Công chức viên chức, Luật quản lý sử dụng tài sản công, Luật  Khoa học Công nghệ, (ii) Cơ quan chủ quản đang can thiệp quá sâu vào các hoạt động của nhà trường, “đặc biệt là bộ máy quản lý nhân sự và đầu tư của nhà trường”. (iii) Hoạt động của hội đồng trường (HĐT) mang tính hình thức, thiếu thẩm quyền cụ thể; phân định chức năng nhiệm vụ HĐT, Đảng ủy, Ban giáo hiệu rất khó;  rất nhiều thành viên HĐT là cấp dưới của hiệu trưởng (iv) Nhiều người gắn “tự chủ đại học” với “tự chủ tài chính”.

Xin lưu ý rằng, việc thí điểm tự chủ đại học có vẻ “kén đất”. Trong số 23 trường thí điểm có 12 ở thành phố Hà Nội, 8 ở thành phố Hồ Chí Minh, Đà Năng, cần Thơ, Trà Vinh – mỗi nơi 1; không có sự góp mặt của các ĐHQG, ĐHV và thiếu vắng các cơ sở GDĐH ở nhóm trung bình và nhóm yếu thế (nhà trường trụ ở những nơi không phải đô thị lớn và địa phương có kinh tế kém phát triển). Dòng tiền đến với nhà trường có đến 76 % từ học phí; nguồn hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước chỉ vào khoảng xấp xỉ 10% [Bộ GD&ĐT, 2017]. Những ngày này báo chí đăng tải “Trong năm học 2019-2020, sinh viên các trường thí điểm tự chủ đóng học phí từ 18,5-46 triệu đồng/năm (tùy ngành). Mức học phí các trường này được thu cao gấp 2-3,5 lần so với các trường khác (học phí các trường chưa tự chủ 8,9-13 triệu đồng/năm tùy ngành)”[ https://thanhnien.vn/]. Như thế, tự chủ đại học theo NQ-77 đâu phải thiết kế cho “đại trà!

– Năm 2018 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật GDĐH được ban hành. Các nhà lập pháp đã làm vơi đi không ít hạn chế (được nhắc tới ở trên) nhằm tạo thuận lợi cho chủ trương tự chủ đại học đi vào cuộc sống. Nổi bật là việc sửa Điều 32 của Luật GDĐH về quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình theo hướng: (i) bổ sung điều kiện tự chủ; (ii) chi tiết hóa quyền tự chủ học thuật, quyền tự chủ tổ chức và nhân sự, quyền tự chủ về tài chính tài sản; (iii) quy định rõ, chi tiết về trách nhiệm giải trình.

Bên cạnh đó, nhiều vấn đề được làm rõ, chi tiết hóa gắn với thực hiện quyền tự chủ. Ví dụ: quy định tiết về HĐT (sửa Điều 16), mở ngành đào tạo (sửa Điều 33), chỉ tiêu tuyển sinh (sửa Điều 34), thời gian đào tạo (sửa Điều 35), tổ chức quản lý đào tạo (sửa Điều 37), văn bằng chứng chỉ (sửa Điều 38), học phí và các khoản thu khác (sửa Điều 65), quản lý tài chính của các cơ sở GDĐH công lập và tư thục (sửa Điều 66), quản lý sử dụng tài sản  của các cơ sở GDĐH công lập và tư thục (sửa Điều 67) v.v…

– Tháng 12 năm 2019, Chính phủ ban hành Nghị định 99/2019/NĐ-CP  hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật GDĐH (NĐ-99). Song hành với nghị định này là một số nghị định liên quan như: Nghị định 115/2020/NĐ-CP  quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý đối với viên chức làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập (NĐ-115), Nghị định 120/2020/NĐ-CP quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập (NĐ-120), Nghị định 60/2021/NĐ-CP quy định về tự chủ của các cơ sở sự nghiệp công lập (NĐ-60), Nghị định 81/2021/NĐ-CP quy định về học phí giai đoạn 2022-2026 (NĐ-81). Mặt khác, Bộ GD&ĐT đã ban hành 3 thông tư quy định về đào tạo đại học, thạc sĩ, tiến sĩ và thông tư về chuẩn chương trình đào tạo.

Những nỗ lực về kiến tạo cơ chế chính sách đã mang lại hình ảnh mới về tự chủ đại học Việt Nam được thống kê ở Bảng 2.

Như vậy, từ 2005 trở lại đây nhận thức về tự chủ đại học đã có bước phát triển mới. Nội hàm tự chủ đại học đầy đủ, chi tiết. Quyền tự chủ được định chế song hành cùng trách nhiệm giải trình. Tất cả kết nối theo logic, được thể hiện trong các văn bản luật, nghị định.  Việt Nam đã có một hành lang pháp lý để thực hiện tự chủ đại học.

 

 

Bảng 2. Đặc điểm tự chủ của các cơ sở GDĐH tại thời điểm hiện hành.

Loại hìnhMô hình trườngTự chủ
học thuật
Tự chủ tổ chức
và nhân sự
Tự chủ
tài chính
Trách nhiệm
giải trình
CÔNG LẬPĐHQGTự chủ cao trên cơ sở bảo đảm điều kiện cần thiết.Pháp nhân độc lập, không có cơ quan chủ quản. Tự chủ cao.Là đơn vị dự toán cấp I. Tự quyết theo Luật Ngân sách và Luật tài sản công.Nhận thức đúng. Bộ GD&ĐT quy định cụ thể. Có chế tài.

 

 

ĐHVCó cơ quan chủ quản. Tự chủ hạn chế.Theo quy định của Bộ Tài chính

 

Trường ĐH công  khác
TƯ THỤCĐHTTPháp nhân độc lập, không có cơ quan chủ quản. Tự chủ caoPháp nhân độc lập. Hạch toán kiểu doanh nghiệp
ĐHTT không vì lợi nhuận

 

III. Một  số nhận xét

Nhận định, đánh giá khung chính sách về tự chủ đại học cũng như việc thực hiện chúng là công việc khoa học và cẩn trọng. Trong nỗ lực hồi cứu lại tình hình tự chủ GDĐH ở Việt Nam những năm đổi mới, người viết bài này xin có một vài nhận xét.

  1. Từ sau năm 1987 quy mô sinh viên tăng mạnh, nhưng kinh phí từ ngân sách Nhà nước dành cho GDĐH tăng không đáng kể, khiến lượng tiền đầu tư của nhà nước trên một sinh viên giảm sâu, không bảo đảm nhiệm vụ đào tạo. Trong hoàn cảnh đó, cặp đôi chính sách: tự chủ đại học và đa dạng hóa nguồn cung cấp tài chính được lựa chọn.
  2. Giai đoạn trước 2005, nội hàm tự chủ đại học được đưa vào trải nghiệm ở các mô hình trường mới; phần lớn là những quy định mang chất định hướng, chưa đầy đủ, lồng ghép trong các văn bản “tạm thời” ở cấp bộ, hay quyết định cá biệt ở cấp Thủ tướng Chính phủ. Cho đến thời điểm này, nhận thức về tự chủ đại học đã có bước phát triển mới. Nội hàm tự chủ đại học đầy đủ, chi tiết. Quyền tự chủ được định chế song hành cùng trách nhiệm giải trình. Tất cả kết nối theo logic, được thể hiện trong các văn bản luật, nghị định. Như vậy, gần 30 năm qua việc cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước về tự chủ đại học được diễn ra liên tục. Tự chủ đại học đã trở thành xu thế tất yếu, được luật hóa.
  3. Các cơ sở GDĐH được thí điểm tự chủ đều mang lại những giá trị tích cực. Nguồn lực thu từ ngoài ngánách Nhà nước tăng rõ rệt, nhờ thế các yếu tố bảo đảm chất lượng được cải thiện, đời sống giảng viên, cán bộ nhân viên tốt hơn. Tuy nhiên, tự chủ với điều kiện tiên quyết là tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư có thể là nguyên nhân dẫn đến sự không góp mặt của các ĐHQG, ĐHV và sự thiếu vắng của các cơ sở GDĐH thuộc nhóm trung bình và nhóm yếu thế – điều này không tạo thành sức mạnh thực hiện mục tiêu cốt lõi của việc tự chủ đại học.
  4. Để thực hiện đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở GDĐH công lập đòi hỏi: (i) quyết tâm cao của cơ quan quản lý nhà nước về GDĐH; (ii) bảo đảm lợi ích nhà trường và các bên liên quan.
  5. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GDĐH năm 2018 có hiệu lực khoảng hai năm rưỡi. Còn quá sớm để nhận định về những giá trị mới liên quan đến tự chủ đại học do luật này mạng lại. Có điều, thời gian qua đã xuất hiện những vấn đề không thể không đề tâm. Xin nêu vài vấn đề.

Thứ nhất, tính không đồng bộ của pháp luật khiến những “thông thoáng” từ Luật GDĐH sửa đổi và các văn bản cá biệt của Thủ tướng Chính phủ cho từng trường thuộc diện thí điểm đều không thể vượt qua các luật, mà trước hết là Luật Công chức viên chức, Luật quản lý sử dụng tài sản công, Luật Ngân sách nhà nước; không vượt qua những xung đột, những “thói quen ” hướng dẫn luật theo kiểu tập trung quyền lực vào tổ chức chủ quản mà NĐ-99 và NĐ-115 là những ví dụ.

Thứ hai, hiện nay, nguồn lực đầu tư của nhà nước cho GDĐH Việt Nam vào khoảng 0,33% GDP, nguồn lực chính đảm bảo hoạt động của các cơ sở GDĐH là học phí. Cách tiếp cận nguồn lực như thế khó có thể thực hiện được nhiệm vụ “phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao”- khâu đột  phá chiến lược của Đại hội Đảng XIII.

Thứ ba, rất khó thuyết phục bỏ cơ chế chủ quản, trong khi đó  không ít cơ quan quản lý trực tiếp (cách gọi khác của cơ quan chủ quản) can thiệp không thích hợp, quá mức vào những công việc mà HĐT tự quyết sẽ tốt hơn nhiều. Điều này khiến HĐT khó thoát khỏi tình trạng hình thức. Thêm vào đó, việc phân định chức năng nhiệm vụ giữa các cơ quan: quản lý trực tiếp, HĐT, Đảng ủy, Ban giám hiệu vẫn còn rất nan giải. /.

Tháng 10/2011

TÀI LIỆU DẪN

 

  1. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học số 34/2018/QH14.
  2. Quy chế tổ chức hoạt động ĐHQG HN theo QĐ số 477-TTg ngày 5/9/1994; Quy chế tổ chức hoạt động ĐHQG Tp HCM theo QĐ số 185 -TTg ngày 28/3/1997; Quy chế tổ chức và hoạt động của Đại học quốc gia ban hành theo Quyết định số 16/2001/QĐ-TTgngày 12 tháng 02 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ.
  3. Quy chế tạm thời trường đại học bán công ban hành theo Quyết định số 04/QĐ-TCCB ngày 3/1/1994 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT.
  4. https://laodong.vn/cong-doan/su-hinh-thanh-va-phat-trien-cua-truong-dai-hoc-ton-duc-thang-840083.ldo
  5. Cao Văn Phường. Xây dựng nền giáo dục mở. NXB chính trị quốc gia sự thật 2019 (trang 247-281)
  6. Việt Nam – Giáo dục đại học và Kỹ năng cho Tăng trưởng. Báo cáo số 44428-VN. Tháng 6 năm 2008 của Phòng phát triển con người Khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương Ngân hàng Thế giới.
  7. Đặng Văn Định. Hai tỷ USD vốn vay ODA đem lại lợi ích gì cho giáo dục VN. Giáoduc.net ngày 17/8/2015.
  8. Bộ GD&ĐT. Báo cáo kết quả đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết 77/NQ-CP về thí điểm đổi mới cơ chế GDĐH công lập giai đoạn 2014-2017. Tháng 10/2017.
  9. https://thanhnien.vn/truong-dh-cong-lap-nao-duoc-thu-hoc-phi-cao-post865171.html.

______________________________

Bài viết liên quan